cn-v-tnc

Giuse BCD

Thời gian gần đây, người viết thường được nghe rất nhiều linh mục, tu sĩ nam nữ, và thậm chí cả những giáo dân nói về truyền giáo. Có thể nói dường như mọi thành phần dân Chúa đang dần ý thức về sứ mạng truyền giáo. Đó là tin mừng. Tuy nhiên, thực tế và thực trạng của việc truyền giáo trên đất Việt vẫn chưa khởi sắc. Đâu là nguyên do chính dẫn tới kết quả không mấy khả quan này? Phải chăng từ lời nói và ý thức dẫn tới hành động cụ thể còn nhiều khoảng cách? Phải chăng những người thiện chí, ước ao lên đường truyền giáo vẫn chưa sở đắc phương thức truyền giáo cho bản thân mình? Bên cạnh đó, khi nói về truyền giáo, thì cần nắm rõ đối tượng truyền giáo là ai, như thế nào?

Đối tượng cần được truyền giáo là ai? Trong bối cảnh hiện nay, đối tượng cần được truyền giáo khá đa dạng, đó là những người đã được Rửa Tội nhưng không sống trong Giáo hội, những người bị rối đạo, những người phạm sai lầm (mại dâm, nghiện ngậm, tù tội…), những người chưa biết Chúa (chưa nghe biết Tin Mừng), v.v.. Như thế, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng sứ mạng truyền giáo khá phong phú. Và cũng vì lẽ đó, Giáo hội đã dùng nhiều thuật ngữ để diễn tả việc truyền giáo cho từng đối tượng như truyền giáo, tái truyền giáo, Tân Phúc Âm hóa. Tân Phúc Âm hóa thường được dùng cho mọi đối tượng cần được truyền giáo nhưng với một phương thức mới mẻ, gần gũi và hợp thời. Tái truyền giáo thường nhắm tới những đối tượng đã biết Chúa, đã tin Chúa, nhưng nay không còn giữ và sống Đạo, lạc mất đức tin, v.v.. Truyền giáo thường mang nghĩa chung chung cho mọi đối tượng và cho sứ vụ đặc thù của mọi thành phần dân Chúa. Tuy nhiên, khi nói truyền giáo theo nghĩa hẹp là có ý ám chỉ việc loan báo Tin Mừng cho những người chưa biết Chúa, chưa được nghe Tin Mừng của Chúa.

Đâu là phương thế truyền giáo mà mỗi người Kitô hữu cần sở đắc? Có rất nhiều phương thế để truyền giáo, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người (x. 1 Cr 12:4-11). Chẳng hạn như đi thăm viếng đều đặn những người lạc mất đức tin, tham gia giảng dạy Thần học hoặc các khóa thăng tiến hôn nhân gia đình và chăm sóc sức khỏe (nhất là sức khỏe sinh sản và phụ khoa), các khóa bồi dưỡng giáo lý đức tin, các khóa huấn luyện tác viên Tin Mừng, tích cực tham gia sinh hoạt bác ái xã hội như thăm viếng và chăm sóc người nghèo khổ cũng như giúp đỡ các bệnh nhân nghèo được chữa trị và “cho kẻ đói ăn”, và thú vị nhất là dấn thân đi tới những biên cương mới nơi mà chứa đựng nhiều thách đố, đòi hỏi sự sáng tạo và lòng nhiệt thành mới mẻ, mơi mà có những con người chưa từng cầm được quyển Kinh Thánh, chưa từng biết Thiên Chúa là ai, v.v.. Đây là sứ mạng cốt lõi của anh em Dòng Tên đang thực thi trên đất Việt, nhưng thiết nghĩ cũng là sứ mạng chung của từng người Kitô hữu.

Tôi đã sẵn sàng chưa? Đây là câu hỏi và cũng là lời mời gọi cho tất cả những người thiện chí và đầy lòng ước ao muốn được trở thành nhà truyền giáo đích thực. Dẫu biết thế, việc dẫn thân lên đường truyền giáo không phải nói là làm được. Ngoài việc sẵn sàng lên đường, người truyền giáo còn cần thủ đắc những kỹ năng truyền giáo, những hành trang cần thiết như tinh thần cầu nguyện, tích cực cộng tác với Chúa Thánh Thần, mau mắn hội nhập với môi trường mới và văn hóa mới, chìm đắm trong mầu nhiệm Nhập Thể của đời truyền giáo và giúp người khác sống mầu nhiệm Phục Sinh – mầu nhiệm của những người luôn biết nép mình vào cung lòng đầy thương xót của Chúa Cha, để học cách tín thác và vâng phục của Chúa Con, để không buông rời hơi ấm của Thánh Thần, để hòa cùng một nhịp đập thổn thức trong con tim nhân lành của Chúa Cha với tình yêu thương vô tận.

Thực thế, “Sứ mạng của Chúa Kitô Cứu Thế được trao phó cho Giáo hội vẫn đang còn nhiều dang dở” (RM 1). Nói cách khác, cánh đồng của Chúa thì bao la nhưng vẫn còn thiếu nhiều thợ gặt lành nghề (Lc 10:2). Tại sao vậy? Phải chăng sứ mạng truyền giáo chưa cuốn hút hoặc khó thực thi? Phải chăng Giáo hội thiếu nhân sự, thiếu chiến lược, thiếu sự cộng tác giữa các tín hữu và mục tử, thiếu sự đào tạo bài bản, thiếu nhiệt huyết truyền giáo…?

Vâng, dù là lý do gì chăng nữa, truyền giáo (hay loan báo Tin Mừng) luôn là việc làm cần kíp và cấp bách vì Chúa căn dặn: “Đừng chào hỏi ai dọc đường!” (Lc 10:4), là lời mời gọi khẩn thiết của Chúa Giêsu Phục Sinh: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15), là việc của Chúa nhưng cũng là sứ vụ được Ngài trao cho những người tin: “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (1Cr 3:6; x. 2Cr 4:7, RM 24), là hoa trái của Thánh Thần: “Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã sức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4:18), là sự sống còn của Giáo hội và là bản chất của người Kitô hữu (AG 2; 1Cr 9:16), là một hành trình dài dẵng và đòi hỏi sự bền bỉ cũng như chiến lược rõ ràng, là niềm vui và hân hoan của người được Chúa sai đi (EG 1), v.v..

Pleiku, ngày 23/7/2016

Lưu ý: Các chữ viết tắt:

RM: Thông điệp “Redemptionis Missio” của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, 1990.

AG: Sắc lệnh về Truyền Giáo – “Ad Gentes“.

EG: Tông huấn “Evangelii Gaudium” của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, 2013.

Cảm nhận

Cảm nhận

Share →

One Response to Tôi đóng góp gì cho sứ mạng truyền giáo hiện nay trên đất Việt?

  1. Trương thành Nam says:

    Đâu là phương thế truyền giáo mà mỗi người Kitô hữu cần sở đắc?
    Trong cương vị là giáo dân , để trả lời câu hỏi này xin được gửi bài viết sau:

    Ý NGHĨ VỀ MỘT CỘNG ĐOÀN
    GIÁO DÂN SỐNG TRUYỀN GIÁO

    DẪN NHẬP

    Giáo Hội chúng ta là một giáo hội Được Sai Đi, như đã được Đức Gioan Phaolô II quả quyết : “Ngày xưa, hôm nay và về sau, Giáo Hội luôn là giáo hội truyền giáo. Tính cách truyền giáo nằm trong bản tính của Giáo Hội” ( S 57 ). Thực vậy, từ ngày Chúa Kitô thực hiện công cuộc rao giảng của Ngài ở trần gian đến nay, công việc truyền giáo luôn được Giáo Hội quan tâm và thực thi xuyên suốt. Thêm vào đó, Giáo Hội thường xuyên nhắc nhở sứ vụ này không chỉ dành riêng cho hàng giáo sĩ và các nhà chuyên môn, mà còn là trách nhiệm chung của mọi thành phần trong Cộng Đồng Dân Chúa. Nếu chúng ta, những người giáo dân bình thường nhưng cảm nhận được nơi mình có một đức tin, một tình yêu gắn bó với Thiên Chúa và chúng ta mong mỏi đáp trả tình yêu ấy bằng những hoạt động truyền giáo, thì thiết nghĩ, bản thân phần nào đã tìm được giá trị sống cao quý ở đời này và còn vinh quang cho cuộc đời mai sau.
    Tuy nhiên, khi tự nguyện dấn thân và muốn bắt tay vào thực hiện công việc như vậy, sự tìm chọn một phương thức hợp lý để có thể dễ dàng đi đến kết quả, làm thế nào không bị ràng buộc bởi những điều kiện quá khó khăn thực tại và còn phải phù hợp cho nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội, điều mà chúng ta cần đắn đo suy nghĩ. Song song đó, việc suy tính đến một đoàn thể có tổ chức hẳn hoi với tinh thần cộng tác chặt chẽ, cũng là yếu tố cần thiết để hy vọng có ngày thâu hoạch được những hoa trái dồi dào.
    Gần đây, có những ý hướng mới về truyền giáo, mà hai vị : Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu và Cha Charles de Foucauld, đã đem lại cho Giáo Hội nguồn sống linh hoạt hơn trong chuyên đề này. Nét cơ bản ý tưởng rút ra từ cuộc đời các Ngài là : Truyền giáo bằng đời sống nhân đức và cầu nguyện – Truyền giáo bằng đời sống gương lành. Hai tinh thần này rất dễ thâm nhập vào mọi người Kitô hữu chúng ta khi lưu tâm đến vấn đề truyền giáo, không ai có thể cho rằng : “Thật quá khó khăn khi áp dụng gương truyền giáo của 2 Vị” và cũng khó có ai dám tuyên bố : “Tôi đã thực thi một cách hoàn hảo cung cách sống truyền giáo như 2 Vị ấy”.
    Với sự hiện diện của 2 Đấng Thánh ở vào thời kỳ cận đại thế hệ chúng ta, và cùng dựa trên di sản đồ sộ trong lịch sử truyền giáo của Giáo Hội từ các Bậc Tiền Nhân đã tốn nhiều hy sinh lưu truyền lại cho hậu thế, mà cụ thể là các hoạt động còn gần gũi với nhiều người hôm nay : Hội Thừa Sai Paris, những tín hữu mơ ước lý tưởng sống truyền giáo giờ đây hầu như có thể chọn được cho mình hướng đi trong hiện thực. Bằng sự vận dụng trên những nền tảng này, hy vọng sẽ tạo điều kiện ngày càng có đông người sẵn sàng tự nguyện hiến dâng cho một chương trình bất ly của Giáo Hội.
    Phát sinh từ đó, ý nghĩ về một cộng đoàn “Giáo Dân Sống Truyền Giáo” muốn hình dung ra vài nhận thức và áp dụng thực tiễn nhằm kiến nghị đến những ai mang hoài bảo phục vụ Giáo Hội mà tâm hồn cùng đang tìm về tình yêu sống động với Thiên Chúa trên tinh thần : Đón Nhận và Đáp Trả, qua cách này, mong rằng họ nhìn ra một định hướng hoặc tìm thấy môi trường thuận lợi để dấn thân. Với khả năng bình thường của người giáo dân, bằng các việc làm đơn giản trong đời sống hằng ngày, chúng ta vẫn có nhiều cơ hội để đạt những thành tích mà Giáo Hội luôn mong đợi.
    Bài gợi ý này được trình bày gồm 4 phần :
    – Ý tưởng xuất phát.
    – Các việc làm cụ thể.
    – Đời sống nhân đức thiết thực.
    – Con đường tu luyện lâu dài.

    PHẦN I
    Ý TƯỞNG XUẤT PHÁT

    1 – Ý tưởng đến từ Hội Thừa Sai Paris :
    Nhớ lại những tháng ngày lặn lội truyền giáo của vị giáo sĩ dòng Tên Alexandre de Rhodes (Cha Đắc Lộ) từ năm 1624 đến 1645 tại Việt Nam, sau khi buộc lòng phải trở về Roma vì sự bách hại ráo riết của các vua chúa và biến cố thầy giảng Anrê Phú Yên bị xử trảm, Cha đã đeo đuổi một ý tưởng là phải tiến tới việc đào tạo các giáo sĩ bản xứ để công cuộc mở mang nước Chúa được thuận lợi hơn. Qua sự vận động của Cha, năm 1658 Đức Giáo Hoàng Alexandre VII ra Tông Chỉ Truyền Giáo và đề cử 4 vị: Đức Cha Lambert de la Motte cùng Đức Cha François Pallu đi Việt Nam, Đức Cha Ignace Cotolendi đi Nam Kinh và Đức Cha François de Laval đi Canada. Bốn Vị này được coi là cột trụ thành lập ra Hội Thừa Sai Paris và từ ngày đó đến nay đã hơn 350 năm. Trong suốt khoảng thời gian ấy, người ta ghi lại vô số hy sinh của những Thừa Sai cùng với thành tích mà các Ngài đem lại cho Giáo Hội, nhưng quả thật, cũng không thể ghi hết mọi việc họ đã làm và còn bao tâm tư, suy nghĩ và chịu đựng trãi qua trong cuộc đời cống hiến. Nhận định duy nhất mà người ta có thể tìm thấy chung nơi các Vị, hẳn có một sự gì gắn bó để từ đó phát ra lòng hăng say nhiệt thành đi truyền giáo, phải chăng đây chính là tình yêu nơi Thiên Chúa. Tình yêu ấy vẫn lưu truyền đến nhiều thế hệ sau và hiện đang còn tiếp tục cống hiến cho các giáo hội non trẻ hoặc xa xôi dưới nhiều hình thức, ngay cả đối với Giáo Hội Việt Nam ở dạng giúp phương tiện cho các linh mục sang du học bên Châu Âu.
    Lược lại đôi dòng về hoạt động của các Vị ấy trong quá khứ và hiện tại, lòng chúng ta không khỏi mang nhiều khoắc khoải tự vấn : xem kìa, biết bao con người đã hy sinh trọn vẹn đời mình vì sứ mạng truyền giáo, phần chúng ta, mặc dầu không là giáo sĩ như họ, nhưng chúng ta cũng có thể hy sinh một phần cuộc sống cho cùng mục đích ấy không ? Nếu không là chứng nhân bằng suốt cả một đời thì vẫn có thể dành ra phần nào để phụng sự vì tình yêu trọng đại như các Vị đã làm. Vả lại, bối cảnh khó khăn xã hội ngày nay, việc những giáo sĩ nước ngoài đến quốc gia khác hoạt động ngày càng có nhiều trở ngại, vậy thì chính nguồn nhân lực địa phương đã được các Ngài gầy dựng trong quá khứ, nay có thể cất bước để chung sức chăm lo cho cánh đồng luôn cần thợ gặt.
    2 – Ý tưởng đến từ Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu :
    Hội Thánh đã phong tặng hai vị thánh có cùng danh hiệu : Quan Thầy Các Xứ Truyền Giáo, đó là Thánh Phanxicô Xaviê, Quan Thầy gần gũi hơn cho bậc giáo sĩ truyền giáo chuyên môn, còn Thánh Nữ Têrêsa là Quan Thầy thân thiết hơn đối với tín hữu giáo dân có tinh thần truyền giáo. Điều mà Thánh Nữ bày tỏ : “Hy sinh trong đời sống thường ngày để cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo là hữu hiệu và kết quả hơn cả…” khiến chúng ta được mạn phép phát biểu như thế. Quả vậy, tinh thần phó thác, đời sống nhân đức, cầu nguyện, tấm lòng tha thiết gắn bó với tình yêu Thiên Chúa là những phương thức linh nghiệm mà mọi người dù tầm thường nhất vẫn có được cơ hội để trở thành kẻ đóng góp to lớn cho truyền giáo. Sáng kiến của Thánh Nữ đã kéo thấp xuống những đòi hỏi của điều kiện phương tiện tất yếu phải có đối với người Được Sai Đi, nhưng còn giúp chúng ta dể nâng cao lên để liên kết trong tình yêu Thiêng Liêng. Chính nhờ cảm nhận một cách mạnh mẽ Tình Yêu ấy đã khiến Thánh Nữ thể hiện một đời sống thánh thiện phong phú cùng với lòng sốt mến luôn cầu nguyện hướng về mục tiêu truyền giáo. Ngài còn xác tín thêm hầu nhắn nhủ chúng ta quan tâm về mối liên kết này như là động lực nhằm thôi thúc mọi hoạt động trong đời sống hiến dâng : “Con tìm ra chỗ đứng của con trong Giáo Hội, ơn gọi của con là Tình Yêu …”. Người “Giáo Dân Sống Truyền Giáo” còn gì hơn khi noi gương Thánh Nữ để tìm thấy cho mình một con đường thênh thang khi sống phục vụ lý tưởng, con đường này, dù phải chịu mọi ảnh hưởng của biến chuyển thời thế xã hội, nó vẫn luôn giữ được giá trị thực tiễn mà thẳng lối tiến về vinh quang Nước Chúa.
    3 – Ý tưởng đến từ cuộc đời Cha Charles de Foucauld :
    Nhớ lại hình ảnh trong thời kỳ khi còn chiến tranh, có người len lỏi hoạt động nơi lòng đất địch, một việc làm hết sức gay go và nguy hiểm, đó là chuyện của thời chiến tranh, còn lịch sử Giáo Hội thì để lại cho chúng ta về hình ảnh Cha Charles de Foucauld. Ngài đã trãi qua một quãng đời mình để đem tình yêu cao cả hòa nhập và chia sẻ với các anh em Hồi Giáo miền sa mạc Sahara. Những tháng năm từ 1900 – 1916, Cha có mặt ở các vùng đất nóng bỏng Benis Abbes, Tamanrasset trong khu vực sa mạc Sahara đầy khắc nghiệt và nguy hiểm, Cha đã say mê tìm đến nhiều người thuộc tôn giáo khác, các thổ dân tin vào thần linh nhưng chưa biết Thiên Chúa và những nhóm du mục sống trong hoang địa. Bằng mọi cách Cha làm quen rồi học tiếng của họ, Cha không thuyết phục mọi người theo đạo nhưng cố nêu cao đời sống tông đồ, bác ái… ban ngày Cha làm việc để giúp đỡ những nhu cầu sinh hoạt cần thiết cho họ, chiều về một mình Cha sống tu đức tại nhà riêng.
    Từ những lý do của xu hướng hẹp hòi nơi con người thời đó như kỳ thị sắc tộc, chống ngoại bang, tôn giáo độc tôn, tính ganh tỵ… nhóm người thuộc bản dân Touaregs mang nhiều hiềm khích và muốn tiêu diệt đi lòng yêu thương của Cha đối với các bộ tộc khác trong sa mạc, nên dẫn đến cho Cha cái chết bi thương lúc sập tối ngày 1-12-1916. Cha đã để lại hậu thế tấm gương bằng một cuộc đời mong mỏi tìm theo chân lý và những bài học mới phục vụ Nước Chúa.
    Tính đa dạng đời sống của Cha, khi ở quân đội, lao công làm vườn, ẩn tu, sống với thổ dân… như có ý mời gọi chúng ta về nhận thức : tuy mỗi người một hoàn cảnh riêng, điều kiện sống khác nhau nhưng vẫn có thể cùng hòa nhập miễn là chung tâm nguyện để mưu cầu tình yêu thương gắn bó và muốn san sẻ cho nhau. Song song đó, cuộc đời truyền giáo của Cha cũng nêu lên đặc điểm : bằng việc tu đức bản thân và đón nhận tình yêu Thiên Chúa như là nguồn sức hoạt động, ta có thể tiến tới người khác bất luận thành phần nào ta gặp trong mọi hoàn cảnh cuộc sống hầu chia sẻ Tin Mừng Chúa Kitô mà không cần dùng lời nói để giới thiệu. Niềm vui tươi hạnh phúc nơi tâm hồn đến từ lòng cậy trông Thiêng Liêng đích thực và biểu hiện qua đời sống hiến mình phục vụ, thì cũng nhờ vào nét đặc trưng này có thể dễ dàng lôi cuốn người khác đến với lý tưởng Kitô Giáo, phải chăng đây chính là hình thức truyền giáo bằng gương lành mà chúng ta được mời gọi thực hiện như để đáp lại nỗi băn khoăn của Đức Phaolô VI khi Ngài lên tiếng : “Con người ngày nay không muốn nghe những vị giảng thuyết, nhưng muốn nhìn những chứng nhân”.
    Đúc kết từ 3 ý tưởng vừa nêu, cộng đoàn “Giáo Dân Sống Truyền Giáo” có thể hoạt động với các tôn chỉ như sau :
    – Sống hy sinh vì công cuộc truyền giáo theo bước các Vị trong Hội Thừa Sai Paris.
    – Sống nhân đức, cầu nguyện cho truyền giáo như gương Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu.
    – Sống nêu gương lành để truyền giáo xuất phát từ cuộc đời Cha Charles de Foucauld.
    Ngoài ra, có một đặc điểm chung mà người ta có thể tìm thấy nơi 3 đối tượng ấy, khiến cho phải liên tưởng thêm về một ý xuất phát thứ tư, ý này giúp chúng ta có một hướng đạo đồng nhất để liên kết lại từ những nhân tố rời rạc.
    4 – Ý tưởng đến từ tình yêu nơi Thiên Chúa :
    Cần thừa nhận rằng ý tưởng này làm cốt lõi cho hướng đi và cũng là động lực chính để từ đó phát sinh ra mọi hoạt động truyền giáo của chúng ta sau này. Thực vậy, tình yêu gắn bó nơi Thiên Chúa đã được thể hiện rõ nét ở các Đấng Thánh và các Vị Tiền Nhân mà chúng ta đang lần theo dấu vết cùng với lời giải thích vì sao họ có thể cống hiến cả đời mình để phụng sự cho lý tưởng. Tình yêu nơi Thiên Chúa không thể tách rời với ý định phục vụ Giáo Hội qua công việc truyền giáo, nhất là khi chúng ta chọn một hướng hoạt động mà kết quả của nó chỉ có thể cảm nhận theo cách gián tiếp mà thôi. Có nghĩa là, nếu như thuyết phục được nhiều người dự tòng đồng ý theo Đạo và chịu phép Rửa tội thì đó là thành quả biểu hiện một cách trực tiếp đối với Vị giáo sĩ đã có công truyền bá cho họ. Như vậy trong tiến trình phục vụ, chúng ta có thể nhận ra các đối tượng tha nhân cụ thể để quan tâm tác động đến, còn việc thấy được kết quả thế nào thì phải nhìn sang một dấu chỉ khác. Do đó, tinh thần Đón Nhận và Đáp Trả hiện hữu qua tình yêu nơi Thiên Chúa là nhân tố diễn ra liên tiếp ở suốt quãng đời khi ta còn ý nguyện dâng hiến cho Ngài. Lúc đón nhận tình yêu Thiên Chúa ở buổi ban đầu, qua sự cảm nhận đặc biệt từ những biến cố thông thường của cuộc sống, như thói quen người ta hay nói : “Tiếng Chúa Gọi nơi tâm hồn mỗi người”, nghe theo Tiếng Gọi đó, chúng ta được thôi thúc để cải thiện, thánh hóa hơn trong đời sống và còn kết hợp với Ngài hầu tiến tới phục vụ vì thánh danh Ngài. Thì nếu như ở từng người dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể ai đó sau khi thăng tiến trên con đường thánh thiện hoặc dấn thân rồi tự tìm thấy nơi mình có sự gắn bó mật thiết hơn trước, hoặc vả, nhận ra một tình yêu thâm sâu hơn với Ngài để từ đó càng thêm tận tụy hiến dâng. Phải chăng đây chính là các bước diễn tiến của quá trình Đón Nhận và Đáp Trả đồng thời cũng cho ta thấy kết quả hoạt động của những người con đang có chí hướng sống vì Ngài. Vậy thì, tình yêu nơi Thiên Chúa là động lực khởi điểm lúc ban đầu và cũng là cùng đích để chúng ta vươn tới.

    PHẦN I I
    CÁC VIỆC LÀM CỤ THỂ

    Từ hình ảnh được minh họa về các đối tượng trong phần “ý tưởng xuất phát”, cộng đoàn ”Giáo Dân Sống Truyền Giáo” vận dụng để noi gương sống phục vụ cho ý hướng mình. Chúng ta có thể mượn và tuân thủ theo nguyên tắc sinh hoạt từ những thông lệ có sẵn nơi cộng đồng Giáo Hội, nhưng tinh thần hiến dâng là cho mục đích truyền giáo, vậy đề nghị vài mục tiêu biểu như sau :
    1 – Hy sinh thu nhập :
    Theo gương hy sinh của các Đấng Bậc đã cống hiến đời mình, chúng ta mạnh dạn tiến hành việc làm cơ bản cụ thể là hy sinh thu nhập. Sau khi lượng ước được mức thu chi của mình để chu lo đời sống vật chất bản thân và gia đình theo tinh thần phán truyền của Chúa trong Sách Sáng Thế : “Ngươi phải làm việc đổ mồ hôi xót con mắt mới có bánh ăn…”, chúng ta phải dành phần lớn cho sự sinh tồn của mọi người trong gia đình và còn phát triển con cái. Tuy nhiên, cũng có thể dành ra một phần nhỏ để thể hiện tấm lòng quảng đại mà chăm lo phục vụ Nước Chúa qua việc cộng tác vào công cuộc truyền giáo, do vậy, mức đề nghị đóng góp có thể tương đương từ 1% đến 4% của thu nhập và chúng ta cũng tôn trọng hoàn cảnh riêng mỗi người.
    2 – Hy sinh thời giờ, công sức để làm việc công ích :
    Việc phục vụ công ích là hình ảnh mang nhiều ý nghĩa tích cực cho truyền giáo : thể hiện sự gắn bó mật thiết tình người, cơ hội để bên ngoài thấy được nét đẹp của người có tôn giáo, nêu cao tính cộng đồng, vì lợi ích xã hội… Lượng thời gian đề nghị 3 tuần cho một năm, không kể chủ nhật, hoặc nghĩa là 18 ngày công. Cộng đoàn có thể dùng khoảng thời gian này để thực hiện những công tác đã có thói quen thường làm : đến thí điểm truyền giáo của địa phận giúp việc, tu bổ và lo vệ sinh nhà thờ hay cơ sở, chăm sóc các gia đình nghèo, tham gia tổ chức lễ hội lớn của họ đạo… Những việc này cần được tiến hành theo nhóm, có hoạch định và tổ chức chu đáo, tốt hơn là nên dưới sự giám sát của các Đấng bề trên.
    3 – Trau dồi kiến thức :
    Đây là một vấn đề không thể thiếu quan tâm, vào những thế kỷ đầu khi đời sống tu trì mới vừa thấy xuất hiện trong Giáo Hội, nhiều vị khổ tu thời đó có chí hướng tu trì rất nhiệt huyết nhưng kiến thức thì thô sơ, và vì thiếu am hiểu nên đã phô diễn những lối hành đạo không phù hợp với lẽ tự nhiên thông thường. Trước viễn cảnh đó, Thánh phụ Bênêđictô trong lúc đưa ra Bộ Quy Luật Dòng Tu, Ngài đã chú trọng nhiều đến việc đòi hỏi các tu sĩ phải có một kiến thức cơ bản cần thiết. Về phần chúng ta, với danh gọi là sống truyền giáo, cho dù phương pháp là không quảng bá bằng lời nói, nhưng chúng ta cũng cần phải có ít nhiều kiến thức về tôn giáo mình khi nghĩ đến chuyện truyền đạo. Do vậy, sau khi am tường phần giáo lý cơ bản, có thể xin Quý Cha Linh Hướng thường xuyên tổ chức những buổi học để có khái lược thêm về vài môn đề nghị như là : Thánh Kinh học, Kitô học, Truyền giáo học, Giáo Hội về cơ cấu và lịch sử v v… Đồng thời, vì thế giới ngày nay thông tin biến chuyển một cách lạ thường, nên trong các buổi họp mặt cũng nên truyền đạt cho nhau những thời sự quan trọng có liên quan tới Giáo Hội. Cuối cùng, như đề mục bên trên có bàn đến vấn đề làm việc chung với nhau, tất nhiên cũng cần có những dịp học tập phương pháp, trao đổi kinh nghiệm để đưa công việc đạt đến hiệu quả cao.
    4 – Hướng tới một đời sống công chính :
    Đề mục này được trình bày không hẳn có liên quan đến tất cả mọi người, trong quá khứ với những hoàn cảnh ngẫu nhiên đưa đẩy có thể một vài trong chúng ta đang sinh hoạt với một cuộc sống rơi vào tình trạng tiêu cực của các đức tính như : lòng nhân hậu, lẽ công bằng, đức trong sạch, chu toàn bổn phận, biết tự trọng cá nhân v.v… Nếu là chấp nhận dấn thân vào con đường truyền giáo, khi biểu lộ thiếu hoàn thiện các điểm kể trên một cách quá rõ nét thì sẽ tạo ra sự tương phản. Vài tình trạng cuộc sống còn thiếu sót xem ra hết sức thông thường nhưng muốn khắc phục thì lắm gay go như : tính nóng nảy với người cấp dưới, cân đong thiếu chính xác trong khi buôn bán, quan hệ nam nữ một cách dễ dãi, chưa quan tâm đủ đối với con cái hoặc người thân, say sưa chè chén, kém thi hành kỷ luật trong một tổ chức v.v… Tất nhiên một khi đã mang nhận thức cần phấn đấu để sửa sai điều gì thì chúng ta phải mất một thời gian khá lâu mới có thể chỉnh đốn lại được, mọi người thuộc giới am hiểu sẽ chấp nhận sự thể hiện tính hướng thiện hơn là đòi hỏi chúng ta phải hoàn thiện ngay. Vì tinh thần làm chứng nhân mà can đảm từ bỏ những thói quen không tốt cũng là một hình thức hy sinh đáng kể.
    5 – Công du hành hương :
    Đặc tính về mặt xã hội, nơi hành hương thường gây nhiều sự chú ý đối với người ngoài tôn giáo mình. Đó cũng là nơi giúp chúng ta hướng tâm hồn để cầu nguyện, giúp mở rộng tầm nhìn và còn có thể giúp cho cảm nhận mạnh mẽ hơn về mối liên kết giữa bản thân với các Đấng Thiêng Liêng hầu dẫn đến một đời sống nội tâm vững mạnh và có chiều sâu hơn. Đó là những nguyên do hữu ích có thể mang lại cho chúng ta từ việc đi hành hương, hơn là so với ý nghĩ thông thường : chỉ là nơi để xin ơn.
    6 – Đến với các tôn giáo bạn :
    Việc làm này là ý mong muốn được noi theo Cha Charles de Foucauld, chúng ta đến với những anh em ấy để : thăm hỏi nhau, tặng quà vào dịp đầu năm, cùng cộng tác làm các việc công ích mang tính chất nhân đạo xã hội, hoặc tiếp một tay trong dịp chuẩn bị lễ hội lớn của đôi bên và nếu trong khả năng có thể thì cho mượn phương tiện dụng cụ để thực hiện các mục như vừa nêu v.v … Muốn tạo được cơ hội tiến đến sự giao lưu này, chúng ta thử lần theo các bước đề nghị như sau : trước hết là cầu nguyện để xin ơn soi sáng; kế đến nhờ các vị chuyên môn nghiên cứu và dọn đường quan hệ; rồi quan sát chờ nắm bắt thời cơ; sau cùng là tiến hành. Đề tài này còn mang nhiều tính phức tạp nhưng nếu thực hiện được thì khá lý thú và hữu ích, cần luôn tự nhắc nhở mình về phương châm hành động : ý bạn là chính, còn ý ta là mọn đồng thời mọi sự khoe trương thái quá có nguy cơ phải trả bằng một giá khá đắt.
    Ngoài những hoạt động tiêu biểu nêu trên, tùy theo bối cảnh của từng người, từng nơi chúng ta có thể vận dụng thêm vài việc có thể xãy đến trong biến cố đời sống hằng ngày như : tương thân xóm giềng, giảng hòa bất bình, giúp ma chay, cứu trợ thiên tai, thăm kẻ ốm đau… đó là những cơ hội tốt đem lại lợi ích cho truyền giáo, mặc dầu các sinh hoạt này mang tính cách cá nhân nhưng chúng ta cũng có thể dâng ý nguyện cống hiến cho mục tiêu chung.
    Nhờ áp dụng những việc làm cụ thể như vậy, người “Giáo Dân Sống Truyền Giáo” có thể phục vụ cho lý tưởng mình mà không cần giảng đạo. Tuy nhiên, cũng không loại trừ trường hợp trong quá trình tiếp xúc qua đời sống sinh hoạt thường ngày, nếu có ai tình cờ thắc mắc hỏi chúng ta về Chúa, Hội Thánh v.v… thì không nên tự ý giải thích mà cần dẫn dụ và tạo điều kiện cho họ đến gặp các linh mục, giáo sĩ để được phúc đáp.

    PHẦN I I I
    ĐỜI SỐNG NHÂN ĐỨC THIẾT THỰC

    Nhằm nâng cao đời sống nhân đức và dùng việc nhân đức như giúp linh nghiệm hóa những tâm tình cầu nguyện cho truyền giáo, chúng ta có thể thực hiện các sinh hoạt phổ thông trong Giáo Hội nhưng với một cách thường xuyên và sốt sắng hơn. Cụ thể một số đề nghị xin được nêu ra như sau :
    – Ngoài luật định tham dự thánh lễ Chúa Nhật và ngày lễ buộc, chúng ta có thể đến với 2 thánh lễ khác trong tuần, quan tâm chọn lễ Trọng, kính Thánh Bổn Mạng và các Vị Thánh lớn.
    – Ăn chay kiêng thịt vào ngày thứ sáu đầu tháng, thêm vào đó, nếu được thì có ý hãm mình trong những thứ sáu hằng tuần. Đặc biệt dành tâm tình cao độ để sống Mùa Chay theo Lịch Phụng Vụ Giáo Hội.
    – Đề cao việc năng lãnh nhận Phép Thánh Thể là điều mà hai Vị Thánh biểu tượng của chúng ta, Thánh Nữ Têrêsa và Cha Charles de Foucauld, thường xuyên nhắc đến trong bút tích các Ngài. Chúng ta không quên, nguồn sức hoạt động chủ yếu cho công việc truyền giáo này đến từ tình yêu Thiên Chúa, và cũng thừa hiểu rằng Bí Tích Mình Thánh Chúa chính là phương cách thiết thực nhất giúp đạt tới Tình Yêu ấy.
    – Bí tích giải tội có giá trị quyết định để tác động Cha Charles de Foucauld khi xưa quay về với Chúa và trở thành một tông đồ nhiệt thành. Phần chúng ta, trong đoạn sau sẽ có dịp bàn tới giá trị của tinh thần sám hối trong đời sống phục vụ. Cộng đoàn nên nhờ Cha Linh Hướng giúp ấn định thống nhất một định kỳ thời gian hợp lý để đón nhận Bí Tích này, tuy vậy nếu cảm thấy vừa phạm tội trọng thì cần xin lãnh phép giải tội vào lúc sớm nhất có thể được.
    – Đề nghị gắng thực hiện việc lần hạt Mân Côi mỗi tuần ít là 3 chuỗi 53 : năm sự Vui, năm sự Thương và năm sự Mừng.
    – Duy trì các buổi kinh gia đình như Kinh Hôm, Kinh Mai hoặc kinh trước hay sau bữa ăn… Nếu có thể, chọn một việc nhân đức nhỏ để cùng thực hiện chung cho mọi thành viên trong gia đình.
    – Noi gương Thánh Nữ Têrêsa để sống tâm tình cầu nguyện mật thiết với Chúa vào mỗi hoàn cảnh cuộc sống và mọi lúc có thể được. Nhìn lại cuộc đời Chúa Giêsu, trong khi rao giảng Ngài đã hay cầu nguyện cùng Chúa Cha ở mọi biến cố. Các Nhà Thần học chuyên về Truyền Giáo có câu như sau: “Cầu nguyện là yếu tố cấu thành của mọi phương pháp Truyền Giáo”.
    Chúng ta cũng thừa nhận rằng, hằng ngày vì bận rộn bởi cuộc sống nên việc liên tưởng dâng công đức thành ra những ý nguyện một cách liên tục như các tu sĩ là điều khó khăn. Do vậy, ý mong muốn mỗi định kỳ, nếu được vào thứ bảy đầu tháng, nhờ Cha Linh Hướng dâng một thánh lễ với sự tham dự đông đảo thành viên trong cộng đoàn, để nguyện cầu Thiên Chúa đoái nhận mọi việc làm của chúng ta vào thời gian đó và xin Người chúc phúc cho công cuộc truyền giáo của Giáo Hội. Còn về phần một vài người anh em gặp những khó khăn trắc trở trong cuộc sống mà cần xin ơn riêng rẽ hoặc nhờ cộng đoàn cầu nguyện chung tiếp cho, thì có thể làm thêm các việc nhân đức khác.
    Ngoài đề nghị những nhân đức như trên, chúng ta xem xét đến một việc quan trọng cần phải thực thi để thể hiện sức sống căn bản của người Kitô hữu nhất là trong khi nuôi ý tưởng truyền giáo.
    – Sống Lời Chúa :
    Xin được trình bày phương thức sau đây, vừa đơn giản vừa phù hợp cho Bậc Giáo Dân. Mỗi ngày Chúa Nhật khi dự thánh lễ, chúng ta hết sức chú tâm lắng nghe 3 bài đọc, thậm chí cả bài Thánh Vịnh đáp ca, câu chúc tụng Alleluia, từ đó, chọn cho mình chỉ cần một câu, một ý tưởng mà gây ấn tượng nhất để có thể nhớ và áp dụng thực tiễn cho đời sống trong tuần hoặc luôn cả về sau. Nên thường xuyên nhắc lại trong trí ý tưởng này mỗi ngày và tìm dịp thực thi lời dạy từ ý đó. Việc lắng nghe bài giảng chia sẻ của Linh Mục sẽ dễ cho ta chọn được một ý tưởng thích hợp và thông hiểu sâu sắc hơn.
    Còn thêm một nhận thức khác khó mà không lưu tâm đến, vấn đề này cũng thuộc về đời sống nhân đức, theo thiết nghĩ sẽ có ảnh hưởng lớn trên hiệu quả hoạt động truyền giáo của chúng ta.
    – Nhân đức phó thác :
    Một trong những yếu tố cơ bản cần thiết để thực hiện tốt ý định nêu gương lành là tinh thần chấp nhận thực tại của cuộc sống và sống phó thác. Vì khi chúng ta phục vụ, cần phải được xuất phát từ một nền tảng của tâm hồn bình an trong thánh thiện, rồi thể hiện ra bên ngoài để chi phối và điều khiển mọi sinh hoạt. Một cách ý thức để đạt tới bình an đó là lòng vững tin vào Chúa Quan Phòng, về quan điểm này thì Giáo Hội đã có rất nhiều huấn từ và từng dạy bảo cho chúng ta. Vấn đề được bàn thảo ra đây là mong muốn nhấn mạnh thêm về yếu tố ở phần ý tưởng Cha Charles de Foucauld : nhờ vào tu luyện và Ơn Trợ Giúp, chúng ta luôn sống trong vui tươi, hạnh phúc và công chính để làm thu hút sự quan tâm của những người chưa thuộc về tôn giáo mình. Thực vậy, khi chúng ta làm những việc lành nói là để nêu gương nhưng lại thể hiện nơi mình một vẻ mặt sầu khổ, chán chường với cuộc sống, điều đó thấy không phù hợp. Vậy chuỗi bước dẫn đến tâm trạng sống tốt lành theo xem xét là : chấp nhận > phó thác > bình an > vui tươi, hạnh phúc. Việc chấp nhận mọi hoàn cảnh cũng như nghịch cảnh trong cuộc sống dưới sự vâng phục và phó thác vào một niềm tin thì chính là nhân đức vậy.

    PHẦN I V
    CON ĐƯỜNG TU LUYỆN LÂU DÀI

    Tu luyện lâu dài được hiểu như là : việc muốn hoàn thiện một số đức tính cơ bản sắp được bàn luận dưới đây và ước đoán vào khoảng thời gian nào thì có thể đạt tới điều đó, thật khó mà đoán được, nếu không muốn nói là không bao giờ. Tuy nhiên, với tâm tình hướng thiện và phấn đấu thực sự, chúng ta có thể ghi nhận kết quả theo cách tương đối : tháng sau thì khả quan hơn tháng trước, năm nay có tiến bộ hơn năm rồi. Sở dĩ cần đưa ra con đường tu luyện này là vì nhu cầu phải thể hiện tốt đặc tính làm nhân chứng Phúc Âm trong quá trình thực thi công tác truyền giáo. Trải qua cuộc sống thường ngày, chúng ta hãy còn những thói quen do bị vướng mắc bởi bản tính con người mang ách tội tổ tông và khi để nó bộc phát ra khá tự nhiên, thì song song như vậy, chúng ta khó có thể biểu hiện cho mọi người chung quanh thấy được một đời sống có bản chất đạo lý tốt đẹp, nhất là khi chọn việc nêu gương lành làm phương thức truyền giáo. Vậy kính đề nghị cùng nhau xem qua vài vấn đề cần lưu tâm hơn để đi vào con đường tu luyện của những người mang tâm nguyện sống truyền giáo ở cương vị là giáo dân.
    1 – Một đời sống biết năng sám hối :
    Trong Tân Ước, lúc mới vừa tiếp xúc với công chúng, lời phát ngôn đầu tiên của Thánh Gioan Tiền Hô là : “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần…”. Đến lượt Chúa Giêsu khi khởi sự rao giảng thì Ngài cũng phán cùng nội dung như vậy, không khác (xin tham khảo Phúc Âm theo Thánh Matthêu). Thêm vào đó, trong lịch sử Giáo Hội có rất nhiều gương các Thánh đã thể hiện câu nói “Thánh nhân chính là tội nhân đã trãi qua quá trình sám hối”, điển hình là nơi Cha Charles de Foucauld, suốt cuộc đời phục vụ tha nhân, Ngài đã luôn sống trong tâm tình ấy. Với các chứng cứ vừa nêu, đủ để thôi thúc chúng ta cần phải coi trọng tinh thần này khi mang ước nguyện phục vụ Thiên Chúa qua một hoạt động thánh thiện, mà Người vẫn luôn có ý mời gọi chúng ta. Quả thật, Hội Thánh hằng chú tâm tương tự khi sắp đặt đầu năm phụng vụ là Mùa Vọng để nghĩ đến việc sám hối, đầu thánh lễ cũng là nghi thức như vậy… Khi hiệp thông với Giáo Hội theo Lịch Phụng Vụ, đồng thời tự tổ chức cho mình những định kỳ thường xuyên để sống trong tâm tình đó, thì hy vọng sẽ đón nhận được nhiều hồng ân cần thiết từ Thiên Chúa hầu giúp chúng ta đủ sức phụng sự Người. Việc quan tâm lo xét mình và hoán cải, về mặt tự nhiên, còn có thể giúp chúng ta xây dựng đời sống bản thân chính chắn và hợp lý hơn, đồng thời cũng tạo cho dễ dàng tránh đi tính kiêu căng, một đề tài sẽ được trình bày ở mục kế tiếp.
    2 – Đời sống khiêm tốn :
    Nếu như bỏ ra ít thời gian để bàn luận về vấn đề này dù chỉ với vài dòng chữ thôi thì có vẻ cũng hơi uổng công, thật vậy, từ ngàn xưa người ta đã tốn nhiều giấy mực cho đề tài này rồi, những gì ở đây chỉ là cùng nhau nhắc nhở và đưa ra tâm nguyện thi hành. Trong khi ý thức về đời sống gương lành, một người có thể tự nhủ : “làm thế nào để mở cánh cửa tâm hồn cho mọi người đến với ta và ta đến với mọi người ?”, hoặc ngược lại “làm sao phá được bức tường ngăn cách để người khác có thể đến với mình, và …”, khả năng ai cũng trả lời 2 câu đó một cách dễ dàng, đó là cánh cửa của Đức Khiêm Tốn và bức tường của Tính Kiêu Căng. Nhìn theo một ý như mong muốn để tránh, nếu nơi người nào có tinh thần trách nhiệm cao và ý thức tốt chu toàn các bổn phận đối với mọi kẻ xung quanh, thì họ sẽ đạt được nhiều thuận lợi để khống chế đi những tiêu cực làm phương hại đến Đức Khiêm Tốn. Một điều khác, vì đối tượng bài viết này là dành cho Bậc Giáo Dân nên xin nêu thêm điểm lợi của việc năng luyện Đức Khiêm Tốn, nếu như cha mẹ đã thể hiện tốt đức tính này trong cuộc sống, thì khi nuôi dạy con cái, chúng sẽ không khó khăn gì để có được thói quen cao quý ấy, do đó, đặc điểm trao truyền đức tính trên tại gia đình là một vấn đề đáng xem xét. Nỗi lo âu lớn nhất khi va vào tính tự kiêu, thật khó có thể nhận ra ta là như thế, nhưng trái lại, mọi người chung quanh thì rất nhạy cảm, họ cũng không muốn thông tin về điều ấy mà làm gì, vì biết rằng ta sẽ rất khó chịu khi phải lắng nghe lời phê phán. Vậy giải pháp khắc phục theo suy đoán : cần thức tỉnh và trông cậy vào Ơn Trên phù trợ hầu giúp cải hóa được chính mình.
    3 – Đời sống quên mình :
    Từ đời sống này mà trong lịch sử biết bao vị anh hùng tiền bối đã làm rạng danh Giáo Hội, họ từ bỏ gia đình, quê hương thân thương để đi đến miền xa xôi rao giảng đạo lý Chúa Kitô, như chúng ta đã biết qua Hội Thừa Sai Paris. Chính nhờ nhân tố đó mà tạo nên nét đặc thù của công cuộc truyền bá đạo Công Giáo, bao nhiêu Đấng sẵn sàng bước qua cửa nhà giam để xông vào làm chứng nhân Tin Mừng, tung cổng trại cùi, lao thân vào chốn dịch tể, chiến tranh, chết chóc v v… điều mà ít thấy ai khác có thể hy sinh đến như vậy. Và cũng xuất phát từ lối sống đó làm nảy sinh hệ quả thuộc tính dẫn đến các đức tính cao đẹp khác như : coi trọng lẽ công bằng, dễ tha thứ, nhường nhịn chịu thiệt, âm thầm chịu đựng v v… Khi muốn đề cập ngược nghĩa của sự quên mình thì chính là tính ích kỷ, cũng trong lịch sử, nghịch tính này đã làm cho Giáo Hội bao phen điêu đứng vì các vua chúa hoặc chức sắc cao cấp đã vướng vào một cách hệ trọng. Chúng ta mượn hình ảnh con dã tràng ở bãi biển để minh họa về một ý như sau : nó vò từng viên cát và xếp chồng lên nhau ngay thẳng rồi sau đó sóng biển đánh vỡ tan tành hết, cũng vậy, bao nhiêu công đức tích tụ được trong suốt quá trình làm gương lành, vì không khéo kềm chế mà để xử sự ra tính trên, dù chỉ một lần thôi, thì cũng có thể đưa đến hậu quả tương tự. Trong vấn đề này thiết nghĩ chúng ta cần mượn những hình ảnh, câu chuyện có sẵn trong lịch sử để giúp thêm ý thức hầu rèn luyện bản thân.
    4 – Tính ganh tỵ :
    Đây là vị hung thần núp trong bóng tối mà đã gây nên bao tai ương cho cộng đồng nhân loại, thật vậy, nhiều cuộc tranh giành, xung đột… đem phân tích kỹ lại thì có nguyên nhân sâu xa từ lòng ganh tỵ. Một người đã từng được hấp thụ quá trình giáo huấn tốt về luân lý và đạo lý, nhưng khi rơi vào môi trường phải ăn thua của tính này, thì cũng sẵn sàng phủi tay xóa đi tất cả những gì cao đẹp nơi họ. Tệ trạng này lại thường xảy ra trầm trọng ở xã hội giàu có, phát triển hơn các chỗ còn nghèo nàn thô sơ, bao nhiêu gia đình cha mẹ phải điên đầu triền miên vì con cái bất hòa cũng xuất phát từ đó, cho dù đây là những gia đình khá giả, có tiếng tăm. Ngược lại, nếu một cộng đoàn nào đó sinh hoạt chung với nhau một cách đầm ấm và không bao giờ để biểu hiện tính hơn thiệt như vậy thì sẽ dễ được mọi người xung quanh trầm trồ khen ngợi “… sao các bạn ấy may mắn đến thế ?”. Mong rằng, có vị nào gặp may mắn mà gầy dựng nên gia đình chỉ cần sống đức tin giữ đạo cách cơ bản vừa đủ thôi, nhưng không một ai trong nhà phơi bày ra thói tính trên, thì đã là truyền giáo rồi. Nguyện xin Thánh Nữ Têrêsa hằng phù hộ cho đoàn con cái trần thế, vì đối với Hội Thánh, Người chính là biểu tượng của sự đơn sơ, ngay lành, thánh thiện là những tác nhân hữu ích giúp tránh được tình trạng tiêu cực này.
    5 – Tinh thần hòa giải :
    Trong phụng vụ Giáo Hội thường thấy có những lời nguyện để cầu xin cho được ơn bình an, còn ở đời sống thực tế giữa những con người với nhau, chúng ta nhìn về hai phong cách cần quan tâm khi muốn duy trì bình an, đó là thận trọng trong cư xử để tránh xảy ra sự gay cấn và thứ hai là nếu đã đi đến bất hòa thì phải tích cực tìm cách hòa giải. Tuy nhiên nỗ lực của những người sống truyền giáo trong vấn đề này có phần phức tạp hơn, nếu người khác có điều gì vướng mắc làm phiền đến mình, chẳng những phải sẵn lòng tha thứ bỏ qua mà còn tìm cách khéo léo cho họ biết là mình có thiện chí quên đi chuyện cũ. Ngược lại khi mình rơi vào bối cảnh nào đó mà mắc nợ, lỗi phạm đến người khác thì cần phải cố gắng đến với họ để thú nhận, làm hòa và bày tỏ ý định bồi hoàn thỏa thuận phần thiệt hại mà mình đã gây ra trong quá khứ. Vậy theo cách nhìn thông thường của người đời thì nghĩ rằng lối ứng xử đó như một bất công thiệt thòi cho bản thân, nhưng nó lại là một đòi hỏi chính đáng theo cách dạy của Phúc Âm. Đời người bất kỳ ai cũng có lần phát biểu : trong một số trường hợp, chuyện ân oán khó có thể mà bỏ qua được, nói như thế để chúng ta hiểu việc hòa giải là một vấn nạn đáng kể trong sinh hoạt con người. Với vài tình huống éo le và hệ trọng, tiến trình hòa giải muốn thành công nguời ta cần phải vận dụng tất cả các đức tính đã được trình bày trong những đề mục trước đây như : biết tự thú, khiêm nhu, quên mình, không so sánh hơn thiệt… Nguyện cầu Ơn Thánh Linh hằng bao trùm chúng ta như Ngài đã từng thực thi vào buổi ban đầu Truyền Giáo của Giáo Hội.
    6 – Đời sống khiết tịnh :
    Cách dùng từ ngữ để muốn trình bày về một đời sống không nên tiêu dùng xa hoa tốn kém, và cũng không để bị lệ thuộc vào các chất tạo nghiện như rượu, thuốc lá v v.., đồng thời trong một số sinh hoạt có khuynh hướng gây nên lệ thuộc gần như nghiện ví dụ là bài bạc, vài loại giải trí tương tự, trang điểm trang sức một cách tốn hao… Việc ý thức tinh thần nghèo khó, sống tiết độ đối với người làm công tác truyền giáo là điều đáng quan tâm. Khi nêu lên ở phần II về đề nghị đóng góp từ thu nhập, chúng ta cảm thấy ngần ngại và khá tế nhị để trình bày, nhưng lúc bàn đến đây, nếu chấp nhận đôi chút kềm hãm, thì không còn cảm thấy khó xử nữa. Thêm vào đó, ta cũng có thể dâng sự hy sinh này mà chuyển thành ý cầu nguyện cho truyền giáo. Quan sát ở một phương diện khác, trong Tông Huấn về Sứ Vụ Kitô Hữu Giáo Dân “Christifideles Laici”, Đức Gioan Phaolô II khi định nghĩa về người Kitô Hữu có câu như sau : “Người Tín Hữu Giáo Dân được gọi đặc biệt để đem lại cho các tạo vật những giá trị nguyên thủy của nó…”. Theo giáo lý thì chúng ta là loài tạo vật đáng cao trọng hơn, và chắc hẳn giá trị nguyên thủy của con người thì không thể liên lụy đến các yếu tố như vừa nêu trên. Một chứng nhân có thêm những đức tính hoàn thiện thì vẫn thuận lợi hơn để truyền thông ra những gì tốt đẹp cho tha nhân và càng có nhiều điều kiện phục vụ đắc lực cho lý tưởng tôn giáo mình.
    Tóm lại, điều mong ước ở phần này, hy vọng mọi người có thể đón nhận được Ơn Soi Sáng để tự ý thức nơi mình một vài giá trị cần thiết nào đó mà thanh luyện bản thân đang khi mang hoài bão phục vụ Giáo Hội. Còn việc ưu tư lựa chọn phương cách khắc phục như thế nào là phù hợp thì tùy thuộc vào bối cảnh riêng của từng người. Ngoài ra, tinh thần Tám Mối Phúc Thật trong Phúc Âm cũng chính là nền tảng quan trọng để chúng ta lưu tâm trau dồi đời sống đạo lý, hy vọng Bài Giảng Trên Núi huyền diệu ấy từ Thầy Chí Thánh sẽ hằng soi dẫn chúng ta trên suốt chặng đường làm chứng nhân Tin Mừng.

    LỜI KẾT

    Ý tưởng đúc kết cho bài viết là chúng ta cần lưu tâm rằng : việc chu toàn bổn phận của một Kitô Hữu Giáo Dân với biết bao quan hệ và ràng buộc trong đời sống xã hội, gia đình, con cái, kế sinh nhai, tổ quốc, thân hữu, xóm giềng v v… nếu như ứng xử mọi việc vừa nêu sao cho phù hợp với tinh thần các giới răn lề luật Đạo, thì đã là đáp lại Tiếng Gọi của Thượng Đế một cách khá hoàn hảo rồi. Tuy nhiên, vẫn cố gắng tranh thủ thêm đôi chút công sức, thời giờ, huê lợi… mà kề vai gánh vác cùng Giáo Hội trong việc loan báo Tin Mừng thì càng lý tưởng hơn. Song hành với sinh hoạt đời thường như những kẻ khác, người Giáo dân Truyền giáo phải luôn mang bên mình một tâm nguyện sống hy sinh và cầu nguyện cho công cuộc to lớn này của Giáo Hội. Hẳn các lời Chúa Giêsu đã phán đang còn vang vẳng bên tai chúng ta : “phàm ai bỏ nhà cửa, cha mẹ, ruộng đất mà theo Thầy và vì Tin Mừng thì sẽ được…”. Thực ra, khi ôn lại phần đầu của bài viết này, chúng ta đã xác tín rằng động lực chính để thực thi những gì được ghi chép ra đây là xuất phát từ tấm lòng muốn đáp lại cho một Tình Yêu, quả thực Thiên Chúa, Ngài đã yêu thương ta vô bờ vô bến.
    Nguyện xin Mẹ Maria và các Thánh Bổn Mạng luôn phù trợ giúp sức chúng ta để có đủ nghị lực thực hiện sứ mạng tông đồ mà chúng ta đã trót mang tâm nguyện.

    Tháng Mân côi, năm 2012
    Người phán : “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của ta
    để tái lập các chi tộc Gia-cóp,
    để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít.
    Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân
    để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” ( Is 49, 6 )

Leave a Reply

Your email address will not be published.

2 × four =