THỜI KHÓA BIỂU

 Sáng sớm ngày thứ Năm của cuộc Hành Hương, sau khi ăn sáng lúc 6 g 00 chúng tôi khởi hành lên đường đi Huế lúc 7 g 00. Tới Huế khoảng 10 giờ, chúng tôi thăm Thành Nội. Đường vào tham quan Thành Nội khá vất vả theo cách tổ chức ở đây. Giá vé cho một lần tham quan cũng cao. Việc trùng tu đã khá hơn nhiều, nhưng khối lượng công việc cũng còn nhiều. Sau gần 2 tiếng tham quan trong nắng gắt, chúng tôi chỉ đơn giản đến Miếu Thờ nơi có Cửu Đỉnh, rồi đi ra, không tham quan bảo tàng, vì không đủ thời gian. Còn Ngọ Môn là nơi chúng tôi muốn lên trên đó để thấy THÀNH QUÁCH thì đang tu sửa nên không tham quan được. Thành Nội vẫn ì ạch như thế sau 5 năm rồi, với biết bao tiền của của Unesco đổ vào đấy. Những nơi đã trung tu xong thì tạm coi là tươm tất, nhưng vẫn chưa nói được gì về lịch sử của Đền Vua Chúa này, khách tham quan vẫn bơ vơ tự tìm hiểu lấy. Chỉ kỷ luật với vé tham quan, còn các hướng dẫn và các tài liệu hướng dẫn thì chưa có gì. Sau khi tham quan vất vả, chúng tôi đi ăn trưa ở Hương Cau, có dừng chân để bà con mua kẹo bánh mè xửng tại Thiên Hương. Chúng tôi ăn trưa khoảng hơn một tiếng với đủ các thứ bánh của xứ Huế, trong phòng có máy điều hòa. Chúng tôi được nghỉ ngơi đôi chút nhờ bữa ăn ngon, và được “tắm mát” đôi chút ở tiệm ăn gia đình này. Sau đó chúng tôi lên đường thăm Đan Viện Thiên An lúc 14 giờ 00. Chúng tôi được các Thầy đón tiếp nồng hậu, hướng dẫn coi nhà thờ Hầm và sau đó xem Ca Tòa nơi đọc kinh của các đan sĩ. Vị đan sĩ đã kể cho chúng tôi nghe lịch sử thăng trầm của Đan Viện này, với biết bao khó nhọc của thời kỳ chiến tranh, phải chịu đứng giữa hai làn đạn bom của hai phía. Ngôi Thánh Đường phía trên được xây dựng sau 1975. Công lớn là vị đan sĩ cháu của vua Khải Định. Chúng tôi đã gặp vị đan sĩ già này. Sau đó chúng tôi mua các đồ kỷ niệm và dầu Tràm do các Thầy làm. Với Thiên An chúng tôi hiểu hơn thế nào là một dòng tu với lời khấn Vĩnh Cư. Rời Thiên An chúng tôi đi thăm chùa Thiên Mụ. Đây là ngôi chùa có bề dầy lịch sử: “Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương”. Khung cảnh trước và chung quanh ngôi chùa thật thơ mộng, với dòng nước sông Hương vẫn còn vẻ duyên dáng vì sự hoang sơ của nó. Có một số ghe tầu du lịch đợi sẵn ở dưới bờ sông bên cạnh chùa để đón khách đi tham quan trên sông Hương. Bầu khí ở đây khá tĩnh lặng. Cũng là thời gian thư giãn cho chúng tôi, sau đó chúng tôi trực chỉ đi La Vang. Chúng tôi đến La Vang sớm, khoảng gần 17 g 00, nên chúng tôi có đủ thời gian để nhận phòng, tắm rửa và nghỉ ngơi. Chúng tôi ăn tối lúc 18 g 30 và sau khi nghỉ ngơi, chúng tôi dâng lễ tại Linh Đài Đức Mẹ lúc 20 g 00 cho đến gần 21 g 00, và sau đó chúng tôi làm việc kính Đức Mẹ. Một ngày đầy ắp các tâm tình lẫn lộn. Chúng tôi ngủ yên trên đất Mẹ La Vang.

Click vào đây để xem hình

NƠI THÁNH VÀ LỊCH SỬ

Sự kiện Trịnh Nguyễn Phân Tranh: Các Cha Dòng Tên làm quan trong triều đình nhà Nguyễn. Thường là các CHỨC VỤ LIÊN QUAN ĐẾN LÃNH VỰC KHOA HỌC. Có thể tìm thấy các dữ liệu lịch sử của thời kỳ này về các thánh Tử Đạo Dòng Tên, cả trong các sách sử học ngoại quốc lẫn trong nước. (Xem Đỗ Quang Chính SJ). Về những nhân vật ở Xứ Hóa, tức xứ Huế, phải kể trước hết đến ông Bảo Lộc Rin, là người đã đọc sách giáo lý bằng chữ Hán do cha Matteo Ricci bên Trung Hoa soạn và đã trở lại đạo do cha Francisco de Pina dạy giáo lý và rửa tội cho năm 1620. Điểm độc đáo của ông là đã làm Linh Thao 8 ngày trước khi ông cầm đầu phái đoàn đi Xiêm năm 1623-1625, và ông được Chúa Nguyễn Phước Nguyên cho làm đầu QUAN VĂN ở Sinoa (tức xứ Huế). Nhân vật thứ hai cần lưu ý là Bà Lớn Gioanna, là chị hay em của Chúa Nguyễn Phước Nguyên, được cha Pina rửa tội cho năm 1620. Bà rất nhiệt tình trong việc truyền bá đạo Chúa cùng với Cha Pina. Nhân vật tiếp theo là Bà Minh Đức Vương Thái Phi, là phi cuối cùng của Chúa Nguyễn Hoàng, cũng được cha Pina dạy đầy đủ giáo lý cho, và được rửa tội vào một ĐÊM trong năm 1625, vì người con duy nhất bà có với Chúa Nguyễn Hoàng là Nguyễn Phước Khê ghét đạo. Bà chết năm 1649 lúc đó 81 tuổi, trong khi con trai Nguyễn Phước Khê lại chết trước bà ba năm. Người thứ bốn cần lưu ý là Ngọc Liên Công Chúa, là con của Sãi Vương Nguyễn Phước Nguyên. Bà có ba người em gái đều kết hôn với các ông lớn như vua của Căm Bốt Chey Chettâ II, một Nhật Kiều danh giá tên là Sataro, và một người với tướng Nguyễn Cửu Kiều. Chịu ảnh hưởng của Minh Đức Vương Thái Phi nên Ngọc Liên Công Chúa đã được rửa tội vào năm 1636 do cha Buzomi, tên thánh là Maria Madalena, chồng bà là Trấn Thủ Biên dinh Phú Yên (1629-1643). Bà có nhà nguyện riêng và cha Đắc Lộ đã ở trong dinh của bà, dạy đạo và rửa tội cho 90 người, trong số này có Thày Giảng Anrê Phú Yên. Năm 1643 bà theo chồng về sống tại Thành Chiêm (xem ĐQC trang 73). Không biết bà chết năm nào, nhưng năm 1674 bà vẫn còn sống và dạy giáo lý.

 DINH CÁT ở QUẢNG TRỊ

 Các Cha dòng Tên đã đến truyền giáo ở đây và có CƯ SỞ cũng như một NHÀ NGUYỆN ở đây, nhưng không rõ CHÍNH XÁC Ở CHỖ NÀO. Một cách chung, Nếu theo Chúa Nguyễn, lấy sông Gianh làm biên giới Đàng Ngoài với Đàng Trong, thì các thừa sai cũng rảo hết vùng đất Đàng Trong này, để Truyền Giáo. Họ Trí Bưu nơi có BIA MỘ TỬ ĐẠO HIỆN NAY cũng do các cha Dòng Tên thiết lập. Khi có BÁCH HẠI, các tín hữu ở Trí Bưu mới chạy vào LA VANG, là nơi Đức Mẹ đã HIỆN RA CHO HỌ.

 

Cảm nhận

Cảm nhận

Share →

Leave a Reply

Your email address will not be published.

6 − four =